Trở về

AHLĐ, GS.TSKH. Đặng Hùng Võ – HÃY LẠC QUAN ĐỂ SÁNG TẠO TRÊN RANH GIỚI CÁC LĨNH VỰC

“Từ kinh nghiệm trong lộ trình khoa học của mình, tôi đã viết bài báo ‘Đến khi nào người việt trẻ tạo được kỳ tích mới?’ đăng trên VN-Express, muốn được chuyển tải thông điệp chính tới thế hệ trẻ: những thế hệ trước đã tạo được một Việt Nam anh hùng trong nhiều cuộc chiến tranh vệ quốc, dám đương đầu với nhiều đế quốc mạnh để giành lấy độc lập và tự do, đẩy được chế độ thực dân cũ vào dĩ vãng; đến nay, nhiều người Việt trẻ đã chứng minh được tài năng của mình, nhưng như thế chưa đủ, chúng ta cần một thế hệ trẻ dám có những ước mơ toàn cầu, tạo được những kỳ tích mới để Việt Nam trở thành một cường quốc kinh tế.”. Đây chỉ là một trong những thông điệp mang giá trị dân tộc, ý nghĩa nhân văn, được đúc kết bằng tâm huyết, chiêm nghiệm bằng trí tuệ, đam mê, hoài bão về một Việt Nam luôn mạnh mẽ của chân dung trí thức Việt Nam tiêu biểu – AHLĐ, GS.TSKH. Đặng Hùng Võ.

LẤY TRI THỨC VÀ ĐẠO ĐỨC LÀM GỐC CỦA CON NGƯỜI

Được gặp ông – người đàn ông có nụ cười và râu quai nón rất ấn tượng, và với tính cách dí dỏm, hài hước của mình, ông luôn nhận được thiện cảm, tình yêu mến từ người khác. Dù trong công việc hay cuộc sống ngoài đời, ông vẫn luôn giữ được nhân cách theo giá trị đạo đức vốn có của gia đình. Người ta có thể học ở ông những đức tính tốt, nhưng với tôi, điều tôi học được ở ông nhiều nhất đó chính là sự lạc quan, luôn biết thích nghi để kịp xoay chuyển với những thách thức của cuộc đời. Trải qua rất nhiều năm làm khoa học, ông luôn là người truyền cảm hứng bất tận đến mọi tầng lớp trí thức và trong đó thế hệ trẻ chiếm tỉ lệ khá lớn khi được lĩnh hội từ ông biết bao kiến thức mới, sự tư duy, sáng tạo, bản lĩnh, biết nắm thời cơ tạo bước ngoặt.

AHLĐ, TSKH Đặng Hùng Võ tại phòng làm việc

Sinh ra vào thời gian hơn một năm sau ngày đất nước giành được độc lập, trong một gia đình có truyền thống Nho giáo, khoa bảng nhiều đời tại huyện Gia Lâm, Hà Nội nên ông đã sớm được lĩnh hội tinh thần học tập và xây dựng đất nước. Ngày tháng ấu thơ ấy, ông cùng gia đình phải đi tản cư để tránh những cuộc càn quét của quân đột Pháp tại Gia Lâm.  Sau những gian khó của cuộc đời, ông mới có thể hoàn thành được chương trình học THPT tại quê nhà. Đó là chuỗi ngày trọ học xa nhà, tự lập nhưng ông vẫn giữ trong mình một tinh thần mới, lạc quan, không ngại khó, ngại khổ và tiếp cận cuộc sống từ Nho giáo xen lẫn Tây học, lấy tri thức và đạo đức làm gốc của con người. Ông luôn tự hào rằng không vướng víu vào bất kỳ tư lợi nào trong quá trình nắm quyền quản lý. Đã có lần ông được nghe vị doanh nhân của ta nói lại câu nói của doanh nhân Mỹ rằng “cái gì không mua được bằng tiền thì sẽ mua được bằng rất nhiều tiền”. Ông phản bác liền “Tôi bảo đảm ít nhất có một người không mua được bằng tiền thì cũng không thể mua được bằng rất nhiều tiền”. Bởi với ông, tiền có thể có, có thể không có, nhưng nhân cách mới là cái phải có. Bước vào cuộc sống luôn lạc quan, cuộc sống là phải phong lưu về tinh thần mặc dù có khổ về vật chất. Sự lạc quan là điều quan trọng nhất đã dẫn dắt cuộc sống vượt quan mọi khó khăn, trở ngại.

Năm 1964, sau khi tốt nghiệp THPT, ông quyết định thi vào trường Đại học Bách Khoa Hà Nội. Nhưng rồi không được học ngành mình chọn mà Trường lại chuyển sang học ngành Trắc địa – Bản đồ mà Trường mới mở có yêu cầu cao về toán học. Chấp nhận sự phân công của tổ chức và ông xem đó như là một cái duyên dù cho bản thân mình chưa từng nghe đến hay có một khái niệm gì về ngành học này. Học tập với một ngành mới nhưng lúc nào ông cũng đứng đầu lớp, đến cuối năm 1967 lại được chọn đi học toán ở Đại học Tổng hợp Hà Nội để giảng dạy toán cho trường Đại học Mỏ – Địa chất sẽ được tách ra từ trường Đại học Bách Khoa Hà Nội. Tốt nghiệp Cử nhân Toán sau 3 năm học, ông quay trở về Đại học Mỏ – Địa chất, tổ chức lại phân công dạy Trắc địa để thử nghiệm “vững về toán mà làm kỹ thuật có tốt hơn không”. Sự lạc quan lại dẫn ông tiếp bước và tiếp tục làm xong chương trình đại học Trắc địa để được cấp bằng Kỹ sư Trắc địa.

Đến năm 1976, ông chuyển công tác về Cục Đo đạc – Bản đồ Nhà nước và nhận nhiệm vụ phát triển ứng dụng tin học vào trắc địa – bản đồ và đến năm 1980, ông trúng tuyển đi làm nghiên cứu sinh ở Ba Lan. Hơn 8 năm làm việc ở đó, sự bùng nổ của công nghệ thông tin và công nghệ vệ tinh ở châu Âu – Mỹ đã làm thay đổi hoàn toàn diện mạo của các khoa học trái đất, trong đó có khoa học trắc địa – bản đồ, đúng sở trường toán ứng dụng của mình. Năm 1988, ông trở về nước làm việc với ước mơ phát triển được khoa học – công nghệ bằng cơ chế thị trường, thoát khỏi bao cấp của Nhà nước và áp dụng được công nghệ thông tin và công nghệ vệ tinh vào quá trình chuyển đổi công nghệ từ thế hệ tương tự sang thế hệ số ở nước ta. Từ 1990, ông được bổ nhiệm làm Giám đốc Liên hiệp Khoa học – Sản xuất Trắc địa – Bản đồ trên cơ sở Viện Nghiên cứu trước đó, tức là vận hành một viện nghiên cứu khoa học theo cơ chế hạch toán của doanh nghiệp. Tiếp theo, ông được bổ nhiệm làm Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chính vào năm 1994, rồi Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường vào năm 2002, phụ trách vấn đề đất đai, và nghỉ hưu vào năm 2007. Năm 1992, ông được Nhà nước phong Học hàm Giáo sư (bỏ qua học hàm Phó Giáo sư) lúc mới ở tuổi 46. Với những đóng góp của mình, ông đã được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới vào năm 2005.

CẢM ƠN SỐ PHẬN LUÔN BỊ “CỞI RA, BUỘC VÀO”

Trong bước đường sự nghiệp của mình, GS.TSKH. Đặng Hùng Võ kinh qua nhiều vị trí, nhiệm vụ, công việc khác nhau, từng thời điểm ngành nghề là do tổ chức phân công, không ai có quyền lựa chọn. Ông vui vẻ tiếp cận cuộc sống theo cách tích cực, lạc quan nhất có thể: cái gì tồn tại đều có lý, hãy tìm lấy điều thú vị từ cái có lý đó để đi lên. Trái lại, ông còn phải cảm ơn số phận luôn bị “cởi ra, buộc vào” mà chính hoàn cảnh ấy đã giúp ông hình thành tư duy “hãy sáng tạo trên ranh giới của các lĩnh vực”.

Buổi trò chuyện của GS Hùng Võ và ông Nguyễn Thái Luyện – Chủ tịch HĐQT kiêm CEO Tập đoàn Địa ốc Alibaba.

Công trình khoa học đầu tiên được thực hiện vào năm 1970 với Cơ quan Bản đồ Bộ Tổng Tham mưu quân đội có nội dung chuyển đổi tọa độ giữa hệ thống của ta và của Mỹ ở Miền Nam để sử dụng các bản đồ thu được của địch cho các vũ khí của ta. Bên cạnh đó là các nghiên cứu ứng dụng các lý thuyết hiện đại vào hoàn cảnh Việt Nam. Hai công trình nghiên cứu quan trọng trong giai đoạn ở Ba Lan là: Ứng dụng trắc địa vệ tinh vào thành lập lưới tọa độ thiên văn – trắc địa – vệ tinh; và Vấn đề xử lý phi tuyến các lưới trắc địa cực lớn (trên phạm vi toàn cầu). Đây là những vấn đề của khoa học hiện đại, giúp bảo vệ thành công cả học vị tiến sỹ và tiến sỹ khoa học, được đánh giá ở mức “xuất sắc” và được nhận giải thưởng khoa học của Đại học Bách khoa Vác Sa Va.

Năm 1989, ông đã thành công trong nghiên cứu ứng dụng công nghệ định vị vệ tinh toàn cầu GPS vào Việt Nam, đã giúp cho việc hoàn thiện hệ thống tọa độ quốc gia VN-2000 vào năm 1999. Công trình này được Chủ tịch nước trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học – công nghệ vào năm 2005. Sau đó, các thiết bị đo đạc số và công nghệ thông tin đã là phương tiện chủ yếu để hoàn thành hệ thống thông tin địa lý quốc gia ở tỷ lệ 1/10.000 trên phạm vi cả nước và tỷ lệ 1/2.000 tại các đô thị và từng bước xây dựng hệ thống thông tin đất đai tại tất cả các địa phương. Lần đầu tiên ở Việt Nam, có lưới tọa độ nhà nước độ chính xác cao phủ trùm cả đất liền và vùng biển, cắm điểm tọa độ tới mọi hải đảo xa nhất, đan dầy điểm tọa độ tới từng đơn vị hành chính cấp xã. Hệ quy chiếu tọa độ quốc gia VN-2000 đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định áp dụng thống nhất cho cả nước từ năm 2000.

Song, để có được thành công như vậy là cả một quá trình rất dài và khó khăn, bởi từ lúc thai nghén dự án đó, cũng đã gặp phải sự phản đối của rất nhiều người. Đề xuất về thực hiện chuyển đổi công nghệ trắc địa và bản đồ từ thế hệ tương tự sang thế hệ số với dự án thí điểm thay thế công nghệ đo đạc tọa độ dựa vào máy kinh vỹ quang học bằng công nghệ định vị toàn cầu GPS đã rất khó khăn để thuyết phục. Thực tiễn thử nghiệm đã chứng minh được rằng công nghệ số mang lại không chỉ hiệu quả kỹ thuật như đo nhanh hơn, chính xác hơn, trên khoảng cách xa hơn, mà còn mang lại hiệu quả kinh tế về giảm đáng kể giá thành. Tọa độ quốc gia đã vươn tới tận quần đảo Trường sa và cũng không một ai có thể tin được rằng chỉ thu nhận tín hiệu từ vệ tinh trong vòng một vài giờ đồng hồ mà xác định được tọa độ chính xác hơn rất nhiều lần so với cách đo bằng máy kinh vĩ quang học hàng tháng trời trên các cột tiêu cao phải phát hết cây để thông hướng nhìn thấy được nhau. Ông đã chứng minh bằng cả lý thuyết và thực thế, tự bỏ tiền mua riêng máy thu GPS để tiến thành thử nghiệm. Và thực sự, ông đã thuyết phục được cả những người khó tính nhất. Đó cũng là tiền đề để ông thực hiện chuyển toàn bộ công nghệ đo đạc và bản đồ sang thế hệ số, đạt được hoàn toàn tiêu chuẩn kỹ thuật của thế hệ công nghệ điện tử 3.0, dễ dàng bước vào thế hệ công nghệ thông minh 4.0. Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới chính là phần thưởng xứng đáng nhất cho những nỗ lực, dám dấn thân, sống hết mình với khát vọng, đam mê.

AHLĐ, GS.TSKH Đặng Hùng Võ phát biểu trong Diễn Đàn Đầu tư Bất Động Sản 2019 – Rủi ro và Cơ hội

Gần 30 năm trước, việc áp dụng công nghệ định vị vệ tinh toàn cầu GPS vào Việt Nam của GS. TSKH. Đặng Hùng Võ đã được thực hiện khá sớm ngay sau khi Mỹ vừa mới cho áp dụng vào dân sự, trong hoàn cảnh nước ta còn bị Mỹ cấm vận, khiến giới khoa học – công nghệ sửng sốt, bất ngờ và nể phục. Thời điểm đó, công nghệ GPS vẫn còn rất xa lạ, nhiều nhà khoa học vẫn còn hoài nghi, cho đó là điều không thể. Thành quả giá trị này là câu trả lời chính xác, rõ ràng, cụ thể nhất để ngày nay có thể thiết lập mô hình không gian mặt đất chính xác phục vụ cho quản lý và quy hoạch phát triển theo tư duy của công nghệ 4.0 đương đại.

THÀNH QUẢ CỦA LẠC QUAN, LAO ĐỘNG VÀ SÁNG TẠO

Kể từ 1970 đến nay, ông đã có 50 năm làm nhiệm vụ giảng dậy đại học, nghiên cứu khoa học, quản lý nhà nước, phản biện xã hội. Các công trình khoa học của ông thường là dài hơi, giải quyết trọn vẹn vấn đề và đưa được vào thực tế cuộc sống, cụ thể bao gồm:

  1. Hệ tọa độ Quốc gia Việt Nam: Nghiên cứu từ 1970 khi mới bước vào cuộc đời khoa học, đất nước còn chia thành 2 miền mà Miền Bắc theo hệ thống tọa độ của các nước xã hội chủ nghĩa cũ, Miền Nam theo hệ thống tọa độ của Mỹ, bằng công trình “Chuyển tọa độ giữa hệ thống của ta và hệ thống của Mỹ sử dụng tại Miền Nam” (trước năm 1975). Khi thống nhất đất nước, công trình tiếp theo là “Đo nối tọa độ giữa 2 hệ thống Miền Bắc và Miền Nam” vào năm 1977 tại Quảng Trị. Khi nghiên cứu tại Ba Lan, công trình nghiên cứu “Ứng dụng trắc địa vệ tinh vào xây dựng hệ thống tọa độ thiên văn – trắc địa – vệ tinh” đã hoàn thành vào năm 1984. Từ 1989 tới 1999, công trình nghiên cứu “Xây dựng Hệ tọa độ quốc gia VN-2000” đã tạo lập được một hệ tọa độ quốc gia độc lập, hiện đại, đạt chuẩn kỹ thuật quốc tế, kết nối được chính xác với hệ thống tọa độ toàn cầu, đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định áp dụng trên phạm vi cả nước từ năm 2000.
  2. Chuyển đổi toàn bộ công nghệ trắc địa – bản đồ từ thế hệ tương tự sang thế hệ số: Được triển khai suốt từ 1989 tới 2000, đã được thực hiện thí điểm tại Trung ương và triển khai rộng khắp ở các địa phương để hướng tới xây dựng cơ sở dữ liệu số về địa lý và địa chính nhằm tạo lập hệ thống thông tin không gian quốc gia trên phạm vi cả nước. Đây chính là hệ thống hạ tầng thông tin cho phát triển thế hệ công nghiệp thông tin 4.0 hiện nay, đủ kết nối với mọi hoạt động của con người, mọi biến động của tự nhiên, kinh tế, xã hội, môi trường phục vụ cho quản lý hiện trạng và quy hoạch phát triển trong kinh tế số.
  3. Đổi mới hệ thống chính sách, pháp luật đất đai dựa trên lý thuyết quản trị tốt về đất đai: Nghiên cứu này nhằm xây dựng hệ thống quản lý đất đai không tham nhũng, minh bạch và hiệu quả cao, suốt từ 2002 cho tới nay. Quản trị đất đai tốt là giải pháp duy nhất trong xây dựng pháp luật đất đai nhằm giám sát được quyền lực của khu vực nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích của người sử dụng đất, nhất là nhóm yếu thế để không ai bị bỏ lại phía sau. Nghiên cứu bước 1 (2002-2007) với việc thiết kế hệ thống khung pháp luật và thực thi pháp luật về đất đai gắn với Luật Đất đai 2003 trong vai người quản lý của Nhà nước về đất đai. Nghiên cứu bước 2 (2007 đến nay) vẫn với đề tài quản trị tốt về đất đai, nhưng trong vai chuyên gia quốc tế khuyến nghị đổi mới chính sách, pháp luật đất đai cho Nhà nước ta.

Cho đến nay, GS.TSKH Đặng Hùng Võ đã xuất bản được 5 cuốn sách, là tác giả chính của 10 công trình khoa học quốc gia và khoảng hơn 150 bài báo khoa học công bố trong nước và nước ngoài, đã hướng dẫn được 20 tiến sỹ bảo vệ thành công luận văn tại các trường đại học lớn trong nước và nước ngoài.

Giáo sư Đặng Hùng Võ, người nổi tiếng về những đóng góp khoa học và có nhiều phát ngôn mang sức nặng và tầm ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội. Ở lĩnh vực chuyên môn, ông được đánh giá là một trong những chuyên gia hàng đầu về chính sách đất đai, kinh tế bất động sản, hạ tầng thông tin địa lý. Ở cương vị lãnh đạo cấp cao, ông nổi tiếng với tư duy lãnh đạo sắc bén, quyết liệt mà vẫn linh hoạt, mềm mỏng, đã tạo ra những “cải cách” mạnh mẽ trong lĩnh vực bất động sản trong suốt những năm đương chức, và chúng ta vẫn luôn nhìn thấy một vị thứ trưởng đi đầu trong sự nghiệp đổi mới của đất nước. Đây là một giai đoạn quan trọng trong cuộc đời khi phải chuyển từ lĩnh vực khoa học – công nghệ sang lĩnh vực chính sách – pháp luật gắn với các vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường. Lại một lần nữa, sự lạc quan đã giúp ông vượt qua khó khăn để thực hiện tốt nhất công việc được giao. Thành quả quan trọng nhất trong giai đoạn này là thay đổi tư duy về chính sách đất đai từ dựa trên quyền lực của Nhà nước sang dựa trên quy luật thị trường. Điểm nhấn chính là Luật đất đai 2003 và những Nghị định hướng dẫn thi hành… cùng 5 năm gắn bó với nhân dân. Chia sẻ những câu chuyện về người thật, việc thật, những bài học ông kể thực sự là một niềm cảm hứng đến bất tận. Ông quan tâm đến những quyền lợi sát sườn của dân như chuyện miếng đất, mảnh vườn hay chuyện sổ đỏ, sổ hồng…

Năm 2007, sau khi nhận quyết định nghỉ hưu trong hệ thống hành chính, ông đã chuyển sang hẳn sang tiếp tục phụ trách Bộ môn Địa chính, Khoa Địa lý, Đại học Khoa học Tự nhiên do ông xây dựng từ 1996. Bên cạnh đó, ông được Ngân hàng Thế giới tuyển chọn làm chuyên gia phân tích chính sách về đất đai, nhà ở và quản trị. Trong giai đoạn này, công trình khoa học chủ yếu là nghiên cứu về các cơ chế chuyển dịch đất đai phục vụ đầu tư phát triển kinh tế theo chương trình của Ngân hàng Thế giới hay chủ trì hoặc tham gia vào một số nghiên cứu về quản trị tốt đối với đất đai, thủ tục hành chính một cửa, phòng chống tham nhũng theo chương trình của UNDP, Ngân hàng Thế giới, Oxfam, Dự án Hậu WTO cho Việt Nam, Dự án Quản trị tốt về đất đai vùng sông Mekong.

Bên cạnh những công việc về giảng dậy, khoa học, AHLĐ, GS.TSKH. Đặng Hùng Võ còn có nhiều hoạt động đáng kể trong lĩnh vực báo chí gắn với những vấn đề xã hội nóng trong giai đoạn phát triển hiện nay. Nhiều bài báo thu hút được đông đảo lực lượng độc giả trên nhiều tờ báo lớn như Vietnam Net, VN Express, Thanh Niên, Tuổi Trẻ, Kiểm toán, Diễn đàn Doanh nghiệp, Kinh tế và Đô thị, Thời Báo Kinh tế Sài Gòn, Đầu tư Tài chính Sài Gòn, v.v. Đây là những bài báo có nội dung phản biện xã hội nhằm xây dựng quá trình phát triển bền vững hơn cho Việt Nam. Bên cạnh đó, ông vẫn đang là Tổng Biên tập của Tạp chí Trắc địa và Bản đồ, một tạp chí khoa học có uy tín của ngành.

Những câu chuyện thú vị, hấp dẫn, góc nhìn thẳng thắn, sắc bén của nhà khoa học tâm thế, vị thế, tài năng, nhân cách đã trở thành biểu tượng. Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường AHLĐ, GS.TSKH. Đặng Hùng Võ, nếu may mắn một lần được gặp gỡ đối thoại với ông chắc hẳn ai cũng sẽ có chung cảm nhận và đúc kết “THẬT TUYỆT VỜI”. Biết là lúc này ông cần được nghỉ ngơi, hưởng thụ tháng ngày yên bình sau hành trình dài dấn thân, cống hiến và lao động miệt mài. Nhưng đất nước cần đến ông, nhân dân mong chờ những người con ưu tú tiếp tục góp sức dựng xây quê hương Việt Nam tươi đẹp. Tôi biết rằng, với tính cách của mình ông chẳng thể ngồi yên đâu mà vẫn mãi theo sát, bằng hành động thực tiễn của cái đầu lạnh, trái tim nóng kiến tạo những giá trị vi diệu nhất. Tôi vẫn mãi và sẽ luôn luôn tin ông và chúc ông thành công nối tiếp thành công.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *